CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA Y TẾ

DỰ ÁN NÂNG CAO NĂNG LỰC TRUYỀN THÔNG VÀ GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA Y TẾ

qua

Chẩn đoán:

Phát hiện bệnh:

Dương vật là bộ phận sinh dục ngoài, chỉ cần quan sát bằng mắt thường đã có thể phát hiện ra các tổn thương từ rất sớm. Các bệnh nhân ung thư dương vật phát hiện muộn khi bệnh nhân tự phát hiện ra bệnh nhưng xấu hổ không đến cơ sở y tế để khám bệnh bởi các thuốc chuyên khoa, hoặc bệnh nhân đến các cơ sở y tế nhưng được chẩn đoán nhầm với một số tổn thương lành tính như viêm loét mạn tính, các u sùi lành tính.Vì vậy không có dấu hiệu xuất tinh sớm.

Cần chú ý tới những phát triển bất thường đối với dương vật như: đau, vết loét lâu liền điều trị kháng sinh dai dẳng không đỡ, vết bạch sản, mụn cóc. Nếu có các tổn thương này nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được khám chẩn đoán chính xác.

Hầu hết trong các trường hợp không hẹp bao qui đầu, dấu hiệu đầu tiên là da dương vật dày lên và thay đổi màu sắc, tiếp theo là xuất hiện loét không đau hoặc phát triển thành u đặc biệt ở qui đầu và bao qui đầu, cũng có khi ở thân dương vật. Các tổn thương này hầu hết không gây đau.

Một số trường hợp thì xuất hiện như ban hơi đỏ hoặc thẫm màu, mảng nhỏ giòn, rát phẳng màu nâu xanh nhạt.

Với trường hợp có hẹp bao qui đầu thì các dấu hiệu thường bị che lấp khó chẩn đoán sớm. Giai đọan đầu u nhỏ thường kín đáo, ngứa do viêm nhiễm kéo dài, chảy dịch hôi điều trị nội khoa không khỏi. Khi đến khám phải mở bao qui đầu mới thấy u với đặc điểm u dễ chảy máu, rất hôi. Giai đoạn muộn thì dương vật có hình lắc chuông hay hình dùi trống.

Khi bệnh nhân đến ở giai đoạn muộn, u có thể lan rộng gây bít tắc niệu đạo, bệnh nhân có thể bí đái hoàn toàn hoặc khó đi tiểu, có thể kèm theo các triệu chứng của viêm nhiễm đường tiết niệu như đái buốt, đái dắt, đái máu.

Có thể sờ thấy hạch bẹn một bên hoặc cả hai bên, hạch có thể di động hoặc cố định.

Các triệu chứng lâm sàng trên có giá trị gợi ý cho bệnh nhân và thầy thuốc hướng tới chẩn đoán ung thư dương vật và cần thiết phải làm xét nghiệm chẩn đoán mô bệnh học để khẳng đinh chắc chắn:

Các xét nghiệm cận lâm sàng như chẩn đoán hình ảnh giúp đánh giá trước mổ, giai đoạn bệnh.

– Siêu âm ổ bụng xem có di căn hạch và các tạng ổ bụng không ?

– Chụp X quang phổi đánh giá tình trang xem có di căn phổi không?

– Chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ và một số xét nghiệm khác khi cần

thiết để xác định tình trạng lan rộng của khối u, các tổn thương di căn nếu có.

Đánh giá giai đoạn trước điều trị rất quan trọng, giai đoạn sẽ quyết đinh các phương pháp điều trị áp dụng trên từng bệnh nhân cụ thể.

Ngoài ra các xét nghiệm cận lâm sàng khác như xét nghiệm đánh giá chức năng gan, thận, hệ tạo huyết và chức năng một số cơ quan khác giúp hỗ trợ cho các phương pháp điều trị như phẫu thuật, tia xạ và hóa chất.

Chẩn đoán giai đoạn tuỳ theo mức độ lan rộng của khối u, di căn hạch và tình trạng di căn xa, người ta chia thành các giai đoạn 0, 1, 2, 3 và 4.

Điều trị:

Phẫu thuật:

Phẫu thuật là phương pháp điều trị cơ bản và hiệu quả nhất. Ung thư dương vật giai đoạn sớm thì chỉ cần cắt bỏ u và bảo tồn dương vật, với ung thư giai đoạn muộn thì phải cắt cụt dương vật và vét hạch bẹn 2 bên.

Điều trị tia xạ.

Có thể dùng xạ trong khi bệnh giai đoạn sớm cần điều trị bảo tồn hoặc xạ ngoài khi di căn hạch bẹn, tia xạ triệu chứng chống chèn ép, chống đau khi bệnh ở giai đoạn muộn, u hạch xâm lấn rộng.

Điều trị hóa chất

– Bôi hóa chất tại chỗ cho những ung thư tại chỗ và những tổn thương tiền ung thư (kem 5-FU)

– Điều trị hóa chất toàn thân: chỉ định hóa chất tiền phẫu với ung thư phát triển nhanh, độ mô học cao, u có kích thước lớn giúp thu nhỏ khối u làm cho phẫu thuật thuận lợi hơn. Hóa chất toàn thân có thể phối hợp với tia xạ điều trị triệu chứng kéo dài thời gian sống thêm khi bệnh nhân ở giai đoạn không phẫu thuật được.

Tiên lượng:

– Kết quả điều trị bệnh phụ thuộc rõ rệt vào giai đoạn bệnh ban đầu được chẩn đoán, bệnh càng được chẩn đoán sớm càng có tiên lượng tốt. Nếu được chẩn đoán khi khối u còn nhỏ, chưa có di căn hạch và di căn xa thì tỷ lệ chữa khỏi là 95%.

– Sau khi kết thúc điều trị bệnh nhân được theo dõi định kỳ, đến bệnh viện khám lại 3 tháng/lần trong 2 năm đầu, 6 tháng 1 lần trong 3 năm tiếp theo. Sau đó khám lại hàng năm. Các bác sỹ sẽ khám lâm sàng và làm một số xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán bệnh tái phát nếu có.

Phòng bệnh

– Kiểm tra bao qui đầu cho trẻ từ khi trẻ còn nhỏ, nếu có hẹp bao quy đầu nên cắt bao qui đầu bị hẹp càng sớm càng tốt.

– Giữ gìn vệ sinh cá nhân, bộ phận sinh dục

– Quan hệ tình dục an toàn: chung thủy một vợ một chồng, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục.

– Tiêm vacxin phòng HPV typ 16,18

– Không nên hút thuốc lá.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*